Home » Nhân vật
Ba cô gái “vàng” của Bộ môn Lý luận văn học và Văn học nước ngoài
06:27 |
Bộ môn Lý luận văn học và Văn học nước ngoài (LLVH và VHNN) trực thuộc Khoa Văn - XH, trường Đại học Khoa học, được thành lập từ năm 2006. Là bộ môn trẻ, vì vậy, các giảng viên của bộ môn luôn có ý thức học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của việc dạy và học ở môi trường Đại học.
Có thể nói, đi tu nghiệp tại nước ngoài hiện đang là hướng đi được nhiều giảng viên lựa chọn, trong đó có các giảng viên của bộ môn LLVH và VHNN. Tính đến thời điểm này, bộ môn đang dẫn đầu toàn khoa về số lượng giảng viên là du học sinh. Tin vui cứ dồn dập đến với bộ môn khi tháng 10/2015 vừa qua, NCS Bùi Linh Huệ đã bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ tại trường Đại học Keele - vương quốc Anh thì cũng là lúc ThS.Nguyễn Thị Diệu Linh nhận được học bổng của đề án 991 và sẽ lên đường sang Đức nhập học vào tháng 3/2016. Còn NCS Bùi Thị Quyên hiện đang gấp rút hoàn thành luận án tại trường Đại học Strasbourg - cộng hòa Pháp để có thể bảo vệ trong năm 2016.
Có được kết quả rất đáng tự hào này, các giảng viên của bộ môn đã nhận được sự động viên, chia sẻ từ phía gia đình; sự ủng hộ của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa và bạn bè, đồng nghiệp. Nhưng trên hết, phải kể đến sự cố gắng phấn đấu và nỗ lực không ngừng của bản thân mỗi giảng viên, từ việc tự học nâng cao trình độ ngoại ngữ, tìm tài liệu trong nước và nước ngoài liên quan đến đề tài nghiên cứu, đảm bảo hồ sơ dự tuyển của mình được đánh giá cao... cho đến việc liên hệ giáo sư hướng dẫn, liên hệ với các du học sinh đã và đang học tại trường mình lựa chọn để thu thập thông tin, kinh nghiệm... Rất nhiều thủ tục và muôn vàn nỗi nhọc nhằn không thể kể hết. NCS. Nguyễn Thị Diệu Linh tâm sự: “Có lúc bế tắc, muốn từ bỏ nhưng rồi nghĩ đến kì vọng của mọi người và công sức mình đã bỏ ra lại lấy lại được động lực để bước tiếp. Nhưng phải thú thực rằng: quyết tâm đi học nước ngoài đã khó, biến quyết tâm ấy thành hiện thực cũng không phải là điều dễ dàng”.
Biết rằng, lựa chọn đi du học sẽ phải đối đầu với nhiều khó khăn, thử thách nhưng bằng quyết tâm, nghị lực và ý chí cầu tiến, dám đương đầu, dám mạo hiểm, các giảng viên của bộ môn LLVH và VHNN đã từng bước thích nghi, hòa nhập được với cuộc sống mới.
NCS. Nguyễn Thị Diệu Linh
Những ngày tháng đầu khi mới đặt chân đến nước Anh, TS. Bùi Linh Huệ lúc ấy cảm thấy vô cùng bỡ ngỡ bởi vô vàn những rào cản về ngôn ngữ, văn hóa, sự thay đổi về khí hậu, về múi giờ... Cuộc sống sinh hoạt bị xáo trộn khiên cô bị ốm và sút cân nhanh. Những giọt nước mắt đã rơi. Những nỗi nhớ thương vô bờ chẳng thể khuất lấp. “Nhiều khi nhớ con mà không dám gọi điện về. Thậm chí, biết tin con ốm, mình như phát điên lên bởi sự xa cách không cho phép mình được ôm con vào lòng”, TS. Bùi Linh Huệ chia sẻ. Nhưng rồi, cô cũng đã vượt qua được hết. Những bài báo Quốc tế được đăng tải, những cuốn sách được xuất bản:(July 2007), Toward a Feminine Culture: Ceremony of Leslie Marmon Silko, Bui Linh Hue, American Today Journal, No 7, p. 54-59; Can be seen at the web of VISTA (Vietnam Information for Science and Technology Advance); (2007). The Vitality of a Motif:Quest forHoly Cup in Modern Fiction, Bui Linh Hue, Thai Nguyen University Magazine of Science and Technology, Thai Nguyen University Press, p. 16; (October 2008), M.Cervantes and Don Quixote, Bui Linh Hue, Vietnam National Education Press; (January 2008). The Fool as a Cultural Motif, The Summary Record of the 2nd National Workshop on Narratology, Press: Hanoi National University of Education... chính là minh chứng cho sự cầu thị của một giảng viên trẻ mới ngoài 30 tuổi, để rồi cô trở về nước với tấm bằng Tiến sĩ rất đáng tự hào - kết quả của 4 năm tu nghiệp với bao mồ hôi, công sức, bao nhọc nhằn, vất vả nhưng cũng đong đầy kỉ niệm.
TS. Bùi Linh Huệ
Không lựa chọn Anh làm điểm đến, NCS Nguyễn Thị Quyên dành nhiều thời gian học tiếng Pháp với hy vọng sẽ được học tập tại ngôi trường Strasbourg danh tiếng. Môi trường học tập mới, phương pháp dạy và học mới khiến cô phải nỗ lực nhiều hơn để bắt kịp và khẳng định mình, mặc dù ở trong nước, trình độ ngoại ngữ của cô được đánh giá rất cao.
Đúng là, “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”. Hành lý trở về của một giảng viên du học là tri thức, là sự tự tin, là vô vàn những kinh nghiệm... Nó không phải là những thứ hiện hữu, ta có thể cân, đong, đo, đếm được nhưng là tài sản vô giá mà nếu như không trải nghiệm, không dám lựa chọn, ta mãi mãi không bao giờ có được nó.
NCS. Nguyễn Thị Quyên
Có thể nói, con đường tu nghiệp tại nước ngoài có thể đem đến cho bạn rất nhiều cơ hội mới nhưng bên cạnh đó cũng là vô vàn thách thức mà không phải ai cũng có thể vượt qua. TS. Bùi Linh Huệ, NCS Nguyễn Thị Quyên, NCS Nguyễn Thị Diệu Linh là những cô gái mạnh mẽ, dũng cảm vô cùng. Họ chính là niềm tự hào, là tấm gương về ý chí và quyết tâm thực hiện khát vọng cho các giảng viên và sinh viên khoa Văn - XH. Tin rằng, với đội ngũ giảng viên có chất lượng, được rèn rũa và đào tạo bài bản, bộ môn LLVH và VHNN nói riêng, khoa Văn - XH nói chung sẽ góp thêm nhiều thành tích hơn nữa cho nhà trường để xứng đáng với sứ mệnh thiêng liêng mà xã hội đã giao phó.
Vân Huyền (Theo Vanxahoi)
PGS.TS Phạm Thị Phương Thái - người đứng sau những vinh quang khoa học
05:47 |
Không chỉ là giảng viên chuyên ngành Văn học Việt Nam, nhà quản lý tâm huyết đứng đầu những đơn vị lớn của trường Đại học Khoa học (Khoa Văn – XH và Trung tâm Nghiên cứu - Đào tạo ngôn ngữ & văn hóa các DTTS vùng núi phía Bắc), PGS.TS Phạm Thị Phương Thái còn được biết đến với tư cách một nhà khoa học nhiều duyên nợ với các dân tộc thiểu số.
Làm nên lí lịch khoa học của Phó giáo sư, bên cạnh những đề tài nghiên cứu và bài báo chuyên ngành, còn có một danh sách đáng nể công trình khoa học được vinh danh mà PGS.TS Phạm Thị Phương Thái tham gia với tư cách giáo viên hướng dẫn.
1. Truyền thống và niềm đam mê
Thế hệ những nhà văn, nhà giáo trưởng thành trên mảnh đất Thái Nguyên mấy chục năm nửa cuối thế kỷ XX vẫn thường kính trọng nhắc về nhà giáo, nhà “Kiều học” Phạm Luận – một trong những người đầu tiên có công gây dựng Khoa Ngữ Văn, trường Đại học Sư Phạm Việt Bắc. Năm 1966, đang là giảng viên Đại học Sư phạm Hà Nội, ngôi trường uy tín nhất nhì đất nước, nhà giáo Phạm Luận rời xa thủ đô, từ bỏ mọi cơ hội lập thân thành danh chốn đô thị để lên Thái Nguyên khai sơn phá thạch cho Đại học Sư phạm Việt Bắc, gieo mầm trí tuệ trên mảnh đất trung du gió núi mây ngàn. Cụ lấy hai chữ “Thái”, “Nguyên” để đặt tên cho con gái và con trai mình như đánh dấu kỉ niệm về một trong những quyết định hệ trọng nhất đời người. Nhà giáo Phạm Luận đã không trở lại thủ đô, cùng gia đình gắn bó suốt đời với Thái Nguyên, sống thanh tao trong nghiệp dạy dỗ học trò và đơm tiếp những giấc mơ trung đại còn dang dở của các bậc tiền hiền…
1. Truyền thống và niềm đam mê
Thế hệ những nhà văn, nhà giáo trưởng thành trên mảnh đất Thái Nguyên mấy chục năm nửa cuối thế kỷ XX vẫn thường kính trọng nhắc về nhà giáo, nhà “Kiều học” Phạm Luận – một trong những người đầu tiên có công gây dựng Khoa Ngữ Văn, trường Đại học Sư Phạm Việt Bắc. Năm 1966, đang là giảng viên Đại học Sư phạm Hà Nội, ngôi trường uy tín nhất nhì đất nước, nhà giáo Phạm Luận rời xa thủ đô, từ bỏ mọi cơ hội lập thân thành danh chốn đô thị để lên Thái Nguyên khai sơn phá thạch cho Đại học Sư phạm Việt Bắc, gieo mầm trí tuệ trên mảnh đất trung du gió núi mây ngàn. Cụ lấy hai chữ “Thái”, “Nguyên” để đặt tên cho con gái và con trai mình như đánh dấu kỉ niệm về một trong những quyết định hệ trọng nhất đời người. Nhà giáo Phạm Luận đã không trở lại thủ đô, cùng gia đình gắn bó suốt đời với Thái Nguyên, sống thanh tao trong nghiệp dạy dỗ học trò và đơm tiếp những giấc mơ trung đại còn dang dở của các bậc tiền hiền…
Tân PGS. TS Phạm Thị Phương Thái
Xuất thân từ cái nôi trâm anh ấy, PGS.TS Phạm Thị Phương Thái sớm theo chân cha trên con đường học thuật. Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, Truyện Kiều của Nguyễn Du, Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm… là lĩnh vực theo đuổi của PGS. Thế nhưng, bên cạnh cổ học tinh hoa, nhà nghiên cứu văn học trung đại ngày càng bén duyên và đắm đuối trong dòng chảy văn hóa dân gian các dân tộc thiểu số. Niềm đam mê được nhân lên khi PGS mang trong mình trọng trách nghề nghiệp, cương vị. Đứng đầu các ngành đào tạo Văn học, Báo chí, Việt Nam học, Du lịch ở trường Đại học Khoa học, Trưởng khoa Phạm Thị Phương Thái luôn chú trọng hoạt động học tập trong môi trường thực tế. Những ngày tháng trèo đèo lội suối, cùng đồng nghiệp và sinh viên “nằm vùng” với đồng bào các dân tộc thiểu số, bên cạnh thành quả lớn nhất là kiến thức, kĩ năng của sinh viên, sự trưởng thành của giảng viên trẻ, “lưng vốn” để dành của PGS là những tri thức văn hóa bản địa mà chẳng sách vở nào nói hết. 9 năm làm trưởng khoa, 9 năm gắn bó với trường Đại học Khoa học, 9 năm lặn lội cổng trời lưng núi, cô giáo Phạm Thị Phương Thái đã tìm thấy những người anh em tình như ruột thịt ở Bắc Kạn, Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, đã hiểu nếp nghĩ, nếp cảm, cách ở, cách ăn của đồng bào Mông, Sán Chỉ, Sán Dìu, Lô Lô, Tày, Nùng... như người đồng tộc. Ở những vùng đất xa xôi ấy, bất cứ lúc nào có hiếu hỷ, đình đám, hội hè, bà con vẫn nhắc nhau gọi cho cô Thái, vẫn dọn giường, sắp bát chờ khách quý đường xa. Đó là nghĩa tình, nhưng cũng là gia tài tri thức sống quý báu hỗ trợ PGS trên con đường nghiên cứu khoa học.
Cũng trong những ngày tháng rong ruổi núi rừng Việt Bắc ấy, PGS.TS Phạm Thị Phương Thái đã nhóm lên ngọn lửa đam mê văn hóa dân tộc trong nhiều đồng nghiệp và học trò.
2. Người đứng sau những vinh quang khoa học
3 năm liên tiếp được vinh danh trong cuộc thi “Tài năng Khoa học trẻ Việt Nam” với 1 giải Nhất, 2 giải Nhì là thành tích đáng tự hào đối với một trường Đại học, càng đáng ngưỡng mộ đối với một giáo viên hướng dẫn. Cùng học trò theo đuổi những đề tài đậm sắc màu văn hóa như Nghi lễ tang ma của người Sán Dìu, Văn hóa rượu của người Nùng An, Lễ trưởng thành của người Sán Chỉ, PGS.TS. Phạm Thị Phương Thái liên tiếp đón nhận những thành công với nhiều bằng khen cao quý của Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo. Thành tích của các nhóm nghiên cứu trẻ dưới sự dẫn dắt của cô giáo Phạm Thị Phương Thái đã góp phần khẳng định chất lượng đào tạo của trường Đại học Khoa học.
Giảng viên Nguyễn Thị Mùi, cựu sinh viên trường ĐH Khoa học từng đạt giải Nhất cuộc thi “Tài năng khoa học trẻ Việt Nam” năm 2012 chia sẻ: “Nửa tháng nằm vùng ở Pắc Nặm là kỉ niệm rất đẹp trong cuộc đời sinh viên của tôi. Giống như nhiều sinh viên khác, thời gian đầu, tôi khá áp lực khi được Trưởng khoa trực tiếp hướng dẫn khoa học. Nhưng đến khi cùng đi trên một chuyến xe, cùng ăn cơm nắm, ngủ đầu sàn, tôi mới phát hiện ra một góc khác của cô giáo mình. PGS.TS Phạm Thị Phương Thái thực sự là một nhà nghiên cứu say mê, sống hết mình và nặng lòng với người miền núi”.
Với những cống hiến khoa học, PGS.TS Phạm Thị Phương Thái đã tạo dựng được uy tín và tiếng nói không chỉ trong giới nghiên cứu văn học mà còn trong làng nghiên cứu văn hóa. Ở Thái Nguyên, người ta biết đến Trường Đại học Khoa học, Khoa Văn - Xã hội, Trung tâm Nghiên cứu - Đào tạo ngôn ngữ & văn hóa dân tộc thiểu số vùng núi phía Bắc – nơi PGS.TS Phạm Thị Phương Thái công tác và làm quản lý như một trong những đơn vị đi đầu trong các hoạt động nghiên cứu văn hóa. Bên cạnh niềm vui của những công trình nghiên cứu được vinh danh, điều làm PGS.TS Phạm Thị Phương Thái trăn trở nhất là cuộc sống còn quá chật vật, khó khăn của các dân tộc thiểu số: “Tôi mong muốn có sự liên kết giữa nhiều ngành khoa học để gắn lí thuyết với thực tiễn, văn hóa với kinh tế - xã hội, tìm ra con đường phát triển sinh kế bền vững cho đồng bào”.
Không thể phủ nhận vai trò của công tác hướng dẫn trong nghiên cứu khoa học, nhất là đối với những tác giả là sinh viên lần đầu tập làm nghiên cứu. Ở một trường Đại học vùng, nơi người học đến từ các tỉnh miền núi khó khăn, thách thức càng nhiều hơn thuận lợi. Đằng sau những lần “đem chuông đi đánh xứ người” và đem về vinh quang cho Nhà trường là sự dốc lòng trong khoa học, là tình yêu, trách nhiệm với học trò của những người hướng dẫn như PGS.TS Phạm Thị Phương Thái và nhiều thầy cô giáo khác.
Mọi huy chương và phần phưởng đều lùi dần vào quá khứ bởi sau mỗi năm, Đại học Khoa học sẽ lại có thêm nhiều thành tích mới. Nhưng tin rằng, giá trị lớn nhất mà họ tạo ra là tình yêu khoa học, niềm tin và khát vọng chiến thắng bản thân trong mỗi học trò.
Cũng trong những ngày tháng rong ruổi núi rừng Việt Bắc ấy, PGS.TS Phạm Thị Phương Thái đã nhóm lên ngọn lửa đam mê văn hóa dân tộc trong nhiều đồng nghiệp và học trò.
2. Người đứng sau những vinh quang khoa học
3 năm liên tiếp được vinh danh trong cuộc thi “Tài năng Khoa học trẻ Việt Nam” với 1 giải Nhất, 2 giải Nhì là thành tích đáng tự hào đối với một trường Đại học, càng đáng ngưỡng mộ đối với một giáo viên hướng dẫn. Cùng học trò theo đuổi những đề tài đậm sắc màu văn hóa như Nghi lễ tang ma của người Sán Dìu, Văn hóa rượu của người Nùng An, Lễ trưởng thành của người Sán Chỉ, PGS.TS. Phạm Thị Phương Thái liên tiếp đón nhận những thành công với nhiều bằng khen cao quý của Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo. Thành tích của các nhóm nghiên cứu trẻ dưới sự dẫn dắt của cô giáo Phạm Thị Phương Thái đã góp phần khẳng định chất lượng đào tạo của trường Đại học Khoa học.
Giảng viên Nguyễn Thị Mùi, cựu sinh viên trường ĐH Khoa học từng đạt giải Nhất cuộc thi “Tài năng khoa học trẻ Việt Nam” năm 2012 chia sẻ: “Nửa tháng nằm vùng ở Pắc Nặm là kỉ niệm rất đẹp trong cuộc đời sinh viên của tôi. Giống như nhiều sinh viên khác, thời gian đầu, tôi khá áp lực khi được Trưởng khoa trực tiếp hướng dẫn khoa học. Nhưng đến khi cùng đi trên một chuyến xe, cùng ăn cơm nắm, ngủ đầu sàn, tôi mới phát hiện ra một góc khác của cô giáo mình. PGS.TS Phạm Thị Phương Thái thực sự là một nhà nghiên cứu say mê, sống hết mình và nặng lòng với người miền núi”.
Với những cống hiến khoa học, PGS.TS Phạm Thị Phương Thái đã tạo dựng được uy tín và tiếng nói không chỉ trong giới nghiên cứu văn học mà còn trong làng nghiên cứu văn hóa. Ở Thái Nguyên, người ta biết đến Trường Đại học Khoa học, Khoa Văn - Xã hội, Trung tâm Nghiên cứu - Đào tạo ngôn ngữ & văn hóa dân tộc thiểu số vùng núi phía Bắc – nơi PGS.TS Phạm Thị Phương Thái công tác và làm quản lý như một trong những đơn vị đi đầu trong các hoạt động nghiên cứu văn hóa. Bên cạnh niềm vui của những công trình nghiên cứu được vinh danh, điều làm PGS.TS Phạm Thị Phương Thái trăn trở nhất là cuộc sống còn quá chật vật, khó khăn của các dân tộc thiểu số: “Tôi mong muốn có sự liên kết giữa nhiều ngành khoa học để gắn lí thuyết với thực tiễn, văn hóa với kinh tế - xã hội, tìm ra con đường phát triển sinh kế bền vững cho đồng bào”.
Không thể phủ nhận vai trò của công tác hướng dẫn trong nghiên cứu khoa học, nhất là đối với những tác giả là sinh viên lần đầu tập làm nghiên cứu. Ở một trường Đại học vùng, nơi người học đến từ các tỉnh miền núi khó khăn, thách thức càng nhiều hơn thuận lợi. Đằng sau những lần “đem chuông đi đánh xứ người” và đem về vinh quang cho Nhà trường là sự dốc lòng trong khoa học, là tình yêu, trách nhiệm với học trò của những người hướng dẫn như PGS.TS Phạm Thị Phương Thái và nhiều thầy cô giáo khác.
Mọi huy chương và phần phưởng đều lùi dần vào quá khứ bởi sau mỗi năm, Đại học Khoa học sẽ lại có thêm nhiều thành tích mới. Nhưng tin rằng, giá trị lớn nhất mà họ tạo ra là tình yêu khoa học, niềm tin và khát vọng chiến thắng bản thân trong mỗi học trò.
Theo TNU
Nữ GS toán thứ hai: “Tôi thích toán bởi sự chính xác và bất ngờ"
09:22 |Năm 2005, TS Lê Thị Thanh Nhàn là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên đạt danh hiệu nữ PGS toán học trẻ nhất Việt Nam. 10 năm sau – năm 2015 này – chị trở thành nữ Giáo sư Toán học thứ hai, sau GS Hoàng Xuân Sính.
GS Lê Thị Thanh Nhàn từng chia sẻ với báo chí chị “thích toán, thích những con số bởi đó là sự chính xác và đầy những bất ngờ”.
“Chuyện làm Toán của tôi cũng giống như mọi chuyện khác vậy, có cả những niềm vui lẫn cả nỗi buồn, những khó khăn và thuận lợi. Bố tôi là bộ đội, đi chiến trường B, C rồi bị bệnh và mất sớm. Mẹ, một giáo viên cấp I, phải lo toan cuộc sống hàng ngày cho cả gia đình.
Hồi đó, gia đình tôi sống rất vất vả, thường xuyên phải nhịn ăn. Từ nhỏ, khi còn học ở trường Lương Ngọc Quyến, Thái Nguyên tôi chỉ mong muốn làm sao có thể thoát khỏi cảnh nghèo, và thêm mơ ước nhỏ là được trở thành cô giáo dạy Toán” – chị Nhàn chia sẻ trong một cuộc phỏng vấn.
Tân GS Lê Thị Thanh Nhàn
Năm 1985, mới học lớp 9, mẹ của chị đã phải bán nhà và ứng trước nhiều tháng gạo bao cấp của cả nhà để có tiền cùng các em về Huế chăm bố ốm. Chị ở lại Thái Nguyên trong căn nhà đã bán, bắt cua, cất vó, kiếm củi, trồng rau, mót lúa... để tự mưu sinh.
Hai chị gái của Nhàn đang là sinh viên Trường ĐH Nông nghiệp 3 trong thời bao cấp, thỉnh thoảng dành dụm mang về cho em chút gì đó để ăn. Hàng xóm khi củ khoai, nắm gạo, lúc nải chuối xanh, mớ cà... đùm bọc, cưu mang cô bé.
Năm 16 tuổi, chị Nhàn trở thành nữ sinh của Trường ĐH Sư phạm Việt Bắc. Có một kỷ niệm trong thời gian học tại trường mà chị không bao giờ quên. Đó là biết được hoàn cảnh khi cha mất ở Huế không có tiền về, kì nghỉ hè năm học thứ nhất, bạn bè cùng lớp dành cho chị một chiếc vé xe lửa để về thăm mộ cha.
4 năm học đại học, ngày lên giảng đường, tối đi học thêm ngoại ngữ, năm 1990 chị tốt nghiệp loại giỏi ngành toán và được giữ lại trường làm giảng viên.
“Lúc đó, tôi lại có mơ ước cao hơn, muốn đi nghiên cứu sinh để thoả mãn lòng say mê học Toán của mình. Với Toán, tôi như con “nghiện” vậy. Hiểu được điều đó, chồng tôi - từng là thầy giáo dạy tiếng Anh của tôi - ủng hộ rất nhiệt thành.
Khi tôi đến xin làm nghiên cứu sinh với GS.TSKH Nguyễn Tự Cường, Viện Toán học, thầy ngại vì sợ sinh viên miền núi như tôi không thể nào làm được. Chồng tôi đã nói với thầy rằng “Nhàn yêu Toán và em yêu Nhàn, mong thầy nhận Nhàn là học trò”” – chị Nhàn kể lại “hành trình” trở thành tiến sĩ ngành toán của mình.
Tại Viện Toán học, chị bảo vệ thành công Luận án Tiến sĩ với 6/7 phiếu xuất sắc. Khước từ nhiều cơ hội làm việc ở nơi có điều kiện, chị đã về công tác tại Trường ĐH Khoa học (ĐH Thái Nguyên) thuộc khu vực trung du và miền núi phía Bắc.
Xương rồng trổ hoa
Đây là hình ảnh mà một đồng nghiệp đã so sánh khi nói về chị Lê Thị Thanh Nhàn.
Đồng nghiệp của chị - chị Thái Phương - kể lại lần đầu tiên được gặp Lê Thị Thanh Nhàn. “Đó là ngày tôi về nhận công tác tại khoa Khoa học tự nhiên vào năm 2006. Cái bắt tay ấm áp và lời chân tình của Nhàn “Cảm ơn chị đã về đây với Khoa Khoa học tự nhiên. Ở đây đang rất cần những người như chị” đã xua đi cảm giác hoang mang và chút đắn đo trong tôi giữa việc nên hay không từ bỏ giảng đường cao rộng của trường Đại học sư phạm để đến một nơi ngút ngàn cỏ gianh và mái nhà xiêu vẹo...
Bởi, một người như PGS. TS Lê Thị Thanh Nhàn sẵn sàng khước từ lời mời chào, những cơ hội làm việc tốt, tự nguyện trở thành người “khai sơn khá thạch”, xây dựng đơn vị mới thành lập, thì một kẻ “vô danh tiểu tốt” như mình sao còn phải so đo, tính toán làm chi?”
Khi làm việc hay tiếp xúc với chị, nhiều người chưa bao giờ có cảm giác đang đứng trước thủ trưởng, cho dù rất kính phục tài năng và nhân cách của chị. Bởi chị luôn tạo cho người đối diện cảm giác thân thiện từ ánh mắt hiền hòa, nụ cười trong sáng, lối nói giản dị, chân thành đến suy nghĩ và tâm hồn rất đỗi hồn hậu, trong sáng.
Chị đã công bố nhiều công trình trên những tạp chí toán quốc tế uy tín được ISI xếp hạng, có những công trình được nhiều nhà toán học trên thế giới quan tâm trích dẫn. Chị cũng đã tham gia giảng dạy tại nhiều trường đại học danh tiếng trên thế giới.
Chị thường xuyên được mời phản biện các bài báo khoa học cho các tạp chí toán trong nước và quốc tế, như tạp chí: Vietnam J. Math, Acta Math, Vietnamica, London Math, tham gia báo cáo tại nhiều diễn đàn hội nghị đại số tổ chức trong và ngoài nước.
TS. Nguyễn Thị Kiều Nga, giảng viên trường ĐH Sư phạm Xuân Hòa – một trong số nghiên cứu sinh do cô giáo Lê Thị Thanh Nhàn hướng dẫn cảm nhận: “Trước đây, tôi luôn tự hỏi “Không hiểu cô làm thế nào để có thể làm ngần ấy việc cùng một lúc: Vừa là một Phó Hiệu trưởng có năng lực của một trường đại học, vừa là một nhà khoa học xuất sắc, vừa là vợ hiền, người mẹ của hai con ngoan và học giỏi...
Được làm việc với cô, tôi đã tìm được câu trả lời: Đó là lòng say mê khoa học, sự tâm huyết với nghề và tấm lòng nhân hậu. Tất cả những điều đó đã cho cô nghị lực phi thường để làm mọi việc”.
Theo Vietnamnet
